Cái gì đằng sau tin tiền gây “tiêu chảy cấp”?


Một nguồn tin từ báo chí (xem link ở cuối bài), dẫn lời TS Trần Đáng, Cục trưởng Cục Vệ sinh an toàn thực phẩm – Bộ Y tế xác nhận, gần 100 mẫu tiền mà Cục tiến hành lấy ngẫu nhiên đều nhiễm khuẩn Escherichia coli (E. coli) rất cao. Đọc tiếp “Cái gì đằng sau tin tiền gây “tiêu chảy cấp”?”

Bạn hỏi thì phải nói, mệt cũng phải viết


Bạn hỏi thì phải trả lời, nhất là khi thông tin về dịch tả đang bị tung hỏa mù như hiện nay.

Điều may mắn cho tôi là tất cả những tranh luận (hoàn toàn không đáng có) về dịch tả – mắm tôm đã được một đồng nghiệp rất uyên bác của tôi, GS Nguyễn văn Tuấn, giải thích khá chu đáo trên http://www.ykhoanet.com, trang chuyên đề về dịch tả. Tuy nhiên, đây là website của giới y khoa, nặng về các thuật ngữ và khái niệm chuyên ngành, nên tôi mạn phép diễn dịch lại một cách đơn giản hơn để cho quí thân hữu không trong ngành y có thể tiếp cận được vấn đề. (Nôm na mách qué là sở trường của tui mà, he he!)

Trước nhất, ta cùng nhìn mối lương duyên gượng gạo mắm tôm-dịch tả mà BYT là chủ hôn dưới nhiều góc độ: Đặc tính lý hóa, vi trùng học, dịch tễ học.

1 1. Đặc tính lý hóa và vi trùng học:

Bệnh tả, khác với hội chứng tiêu chảy gấp gây ra do nhiều tác nhân, có 1 thủ phạm duy nhất là vi trùng Vibrio cholerae, phát triển trong môi trường nhiệt độ tối ưu là 37oC (dao động từ 10 đến 43oC), trong cả môi trường có không khí (“hiếu khí”) và không có không khí (“yếm khí”) nhưng tối ưu trong môi trường hiếu khí. Vi khuẩn tả phát triển mạnh trong môi trường nước với nồng độ muối tối ưu là 0,5% (dao động từ 0,1 đến 4%), và mức độ tăng trưởng cũng như số lượng vi khuẩn giảm đi rõ rệt và thấp nhất khi nồng độ muối trong nước vượt qua ngưỡng 3%. Một nghiên cứu khác cho thấy với nồng độ muối 0,25% (nồng độ tối ưu) thì vi khuẩn tả mới có thể sản sinh ra độc tố tả (9).

Mắm tôm có chứa nồng độ muối rất cao: dao động từ 13% đến 15% trong mắm tôm của Malaysia và 20-25% trong mắm tôm của Philippines. Mắm tôm Việt Nam, do qui trình sản xuất, thường có nồng độ muối khá cao: với mắm tôm lỏng chấm thịt chó, lòng lợn, tỷ lệ muối là 15%, sau khi xay cho vào chum (tức đã pha loãng), còn mắm tôm khô nồng độ muối khoảng 25-30%. Thêm nữa, môi trường của mắm tôm là yếm khí và khan nước. Do đó, mắm tôm là môi trường không thuận lợi cho vi khuẩn tả cư trú và phát triển cũng như phát huy độc lực. Thật ra, có thể nói vi khuẩn tả cũng như các loại vi sinh vật khó tồn tại trong mắm tôm.

Do đó, các biện pháp sản xuất mắm (không riêng gì mắm tôm), do tính sát khuẩn rất cao từ một nồng độ muối đậm đặc, khó có thể bị hư hoại hay nhiễm khuẩn vì đã khắc chế được sự sinh sôi nẩy nở của các vi sinh vật chứa trong nó. Người nông dân VN đã vận dụng qui luật này để làm mắm, như một biện pháp bảo quản và tồn trữ thức ăn.

Một yếu tố có lợi về mặt vệ sinh nữa là vắt chanh vào mắm tôm đã pha loãng (đang chảy nước miếng khi viết đến đây ). Một thí nghiệm trên cá cho nhiễm vi khuẩn V. cholerae, sau khi cho tiếp xúc với chanh (một trái) trong vòng 5 phút, 99,9% số vi khuẩn bị tiêu diệt. Sau 2 giờ, không còn một vi khuẩn nào tồn tại. Mà dù đã pha loãng, nồng độ muối trong mắm tôm vẫn là 15% (tối thiểu), đủ để giết tất cả các vi trùng lỡ dại nhảy vào lọ mắm tôm. Cho mày chít nghe con!

Tóm lại, giả thiết vi trùng tả (cũng như các vi trùng khác), có thể tồn tại, sinh sôi nảy nở trong mắm tôm, không có cơ sở tối thiểu về vi trùng học.

2. 2. Bằng chứng thực tế:

Mặc dù Bộ Y tế đã cất công truy lùng phẩy khuẩn tả trong nhiều mẫu mắm tôm, “em nó” vẫn chứng minh được tấm lòng trinh bạch của mình qua những thực nghiệm với kết quả vô cùng “phản động” trong đợt dịch 2007:

– 50 mẫu mắm tôm lấy ở nhiều nơi ở Hà nội, do Viện Vệ sinh dịch tễ trung ương kiểm nghiệm, đều âm tính với phẩy khuẩn tả.

– Ở SG, TTYT Dự phòng xét nghiệm 24 mẫu mắm tôm ngẫu nhiên, cũng cho kết quả âm tính.

Về mặt thống kê y học, chúng ta cần xét nghiệm bao nhiêu mẫu để có thể quan sát ít nhất 1 mẫu có kết quả dương tính? Các tính toán về xác suất thống kê cho thấy: chỉ cần 30 mẫu là đủ tính đại diện cho toàn bộ họ hàng mắm tôm (chứ không cần đến 74 mẫu như đã tiến hành)!
Vậy là đã rõ, mắm tôm lưu hành trong cộng đồng không hề chứa vi khuẩn tả.

3. 3. Về mặt suy diễn (extrapolation)

Luận cứ của Bộ: vì có một tỷ lệ rất cao (80 -90%) người bị bệnh tả trước đó có ăn mắm tôm. Suy ra, mắm tôm là thủ phạm của bệnh tả. Đây là một luận cứ sai lầm về nhiều mặt:

– Mắm tôm chưa bao giờ được xem là thủ phạm của bệnh tả. Thủ phạm của bệnh là vi khuẩn V. cholerae. Họa chăng, mắm tôm có thể là trung gian truyền bệnh. Hay nói cách khác, việc ăn mắm tôm có thể là nguy cơ (risk) truyền bệnh chứ không phải là thủ phạm trực tiếp.

Xin nói thêm, việc phân biệt được giữa yếu tố nguy cơ (risk factor), nguyên nhân trực tiếp hay quan hệ nhân quả (cause-effect relation) là một trong những yêu cầu đào tạo bắt buộc và cơ bản của ngành y, nhất là khoa vệ sinh dịch tễ.

– Lập luận như trên, 100% (tỷ lệ cao hơn ăn mắm tôm à nghen) người bệnh tả có ăn cơm. Vậy ta có thể suy ra: cơm là nguyên nhân gây ra bệnh tả không? Tôi mà phán vậy, bị các chiến hữu rủa là đồ ngu, vuốt mặt không kịp cũng đáng!

– Một phản đề quan trọng khác là case dịch tả đầu tiên (và một số case khác), không hề ăn mắm tôm thịt chó. Đây là một logic đơn giản: Nếu anh bảo rằng tất cả các em gái trong lễ hội hoa đào vừa qua đều ngoan, thanh lịch, tôi chỉ cần tìm ra 1 em thôi, chỉ 1 em gái hư, không ngoan, bẻ hoa đào nhoay nhoáy…là tôi đã chứng minh anh sai. Dễ ợt!

4. 3. Về độ tin cậy của các dữ kiện khoa học do Bộ Y tế công bố:

Như Báo Lao Động dẫn lời ông Trần Đáng xinh trai: “…Mắm tôm lấy ở Thanh Hoá, Hà Nam, Nghệ Tĩnh, Ninh Bình, Nghệ An đều có vi khuẩn hiếu khí, vi khuẩn kỵ khí (Cl.perfrigens, Cl.tetani), B.cereus, Staph.aureus, Coliform với mức độ 100 – 10.000 con/ml”. http://www.laodong.com.vn/Home/sknb/2008/4/83698.laodong

Đây là một luận điểm rất đáng ngờ. Vì trong đợt kiểm định trước, tất cả các mẫu đều âm tính, dù cho kiểm định ở HN, SG hay gởi ra nước ngoài (tốn kém không cần thiết). Tự dưng, lòi đâu ra một lô một lốc các tên vi trùng đường ruột nghe điếc cả tai. Cần chú ý: trong danh mục những vi trùng này, không có tên vi trùng tả trong 148 mẫu mắm tôm được kiểm định đợt này. Tôi nên tin vào kết quả xét nghiệm nào đây, sau khi đã đọc phần (1)? Đừng xổ tiếng Latinh lòe nhân dân nhé, thưa bác Đáng! “Hoài nghi là cơ sở của khoa học”, đúng không nào!

Ở đây, hình như có mùi na ná thằng đế quốc Mỹ trong chiến tranh Iraq. Muốn đổ tội cho mắm tôm, người ta đã tìm mọi cách truy tìm thiếu khách quan và trung thực như đã cố công truy tìm vũ khí hủy diệt hàng loạt ở Iraq. Tìm vũ khí hạng nặng không ra, thì nếu tìm được dăm ba khẩu súng lục, cũng gọi là có bằng chứng vậy…

Một chi tiết khác làm cho tôi hoàn toàn nghi ngờ tính khách quan khoa học của BYT trong nhận định. Trong cái TV show hôm qua trên VTV2 (8.4.2008), để đổ tội cho thịt chó, một vị TS khả kính đã hùng hồn phát biểu na ná thế này: ngay cả nước rửa tay của người bán thịt chó cũng có vi khuẩn tả. Suy ra, thịt chó là nguồn lây bệnh (ặc ặc). Luận cứ này bị con trai tôi, chưa học chữ nào về ngành y, phản bác ngay, suýt nữa văng tục trước mặt thằng bố khốn khổ. Vì sao quí tử của tôi văng tục thì các thân hữu hiểu ngay rồi phải không?

Bình luận của Nikonian:

Thật ra, nhân loại đã hiểu rõ đường lây, thủ phạm của dịch tả từ cả trăm năm trước. Những bài học vệ sinh yếu lược mà một số thân hữu nêu ra trong comments đến nay vẫn đúng y bon, như hồi thi đệ thất, tôi tụng niệm cuốn “8 môn học yếu lược” vậy. Y học phân loại bệnh tả là “water-born disease” (chứ hổng phải là mamtom-born disease à nghen), và nó phát tán thành dịch tả qua đường nước uống, khi hội đủ một số điều kiện về dịch tễ sau đây:

1. – Có một số lớn người bệnh và người lành mang trùng tả trong cộng đồng

2. – Những người này, vì nhiều lý do khách quan và chủ quan, thải phân của mình một cách bừa bãi ra môi trường chung quanh

3. – Nguồn nước uống bị ô nhiễm trầm trọng và rộng khắp bởi vi trùng tả và được những người khác, qua việc uống nước này, nuốt vào bụng một số lượng lớn vi trùng. Nên nhớ, tính chất acid cao (pH=2) của dịch vị trong dạ dày đã giúp tiêu diệt khá lớn lượng vi trùng. Điều này giúp giải thích vì sao các bệnh đường ruột, trong đó có dịch tả thường phát tán vào mùa nắng nóng, khi người ta phải uống nước nhiều hơn.

Xét cả 3 điều kiện trên, dịch tả thường phát sinh ở những quốc gia chậm tiến, nghèo rớt mồng tơi, ở những nơi mà điều kiện sống vô cùng thấp kém như trại tị nạn, trại tù. Việc để dịch tả bùng ra ở thủ đô của một quốc gia là một điều tồi tệ, xấu hổ và “mất thành tích” ghê gớm. Nghĩ theo hướng này, chúng ta có thể hiểu được, “thông cảm” được vì sao BYT cứ khăng khăng tránh né từ “dịch tả” như thể sợ phạm húy các y tổ 3 đời vậy (?)

Mở ngoặc 1 cái về nước: cuối cùng, cái hồ Linh Quang ở HN cũng bị phát hiện là đầy nhóc vi trùng tả. Phát hiện này rất đúng sách vở kinh điển. Tuy nhiên, cần lưu ý rằng dịch tả không chỉ nổ ra ở những vùng cư dân cạnh hồ, mà đã lan tỏa khắp Hà nội, kể cả trong những nhà hàng khách sạn sang trọng. Dưới góc nhìn dịch tễ học, thủ phạm truyền bệnh vẫn là nguồn nước, nhưng rất có thể nguồn nước uống, chứ không phải chỉ mỗi một cái hồ ao tù nước đọng. Nguồn nước uống có thể bị ô nhiễm ngay từ nhà máy, hệ thống ống dẫn, mạch nước ngầm… Phải “truy sát “ theo hướng triệt để này, hơn là xuýt xoa” tự sướng” khi tóm được em hồ Linh Quang tội nghiệp, như thể chỉ mỗi mình em là can phạm. Mà đâu phải đến năm 2008, em nó mới bị vấy bẩn. Tôi đồ rằng, em Linh Quang này đã mất “gin” lâu rồi.

Nếu nghi ngờ nguồn nước uống tại chỗ của thủ đô ngàn năm bị nhiễm khuẩn tả, cũng giúp giải thích vì sao dịch tả chỉ bùng phát ở HN, mới “Nam tiến” sau gần nửa năm, mặc dù dân Nam kỳ cũng ăn mắm tôm, cũng uống trà đá ừng ực.

Hỏi ngu một tí: Nếu giả dụ, tóm được vi trùng tả từ một vòi nước trong một hộ dân ở HN, các chiến hữu có tin rằng BYT sẽ công bố kết quả này không?

Hiểu đúng, hiểu rõ vấn đề mới giúp toàn dân chống dịch một cách minh bạch và triệt để được. Điều mà tôi bức xúc nhất ở đây là những qui luật về phòng chống dịch tả ở đây đã bị vi phạm, diễn dịch xuyên tạc một cách thô thiển theo kiểu nói lấy được.

Tóm lại:

1. Dịch tả là một bệnh cụ thể, do vi trùng tả gây ra, lan truyền chủ yếu do nguồn nước. Tất cả các thực phẩm, thức uống dây nhiễm nguồn nước có chứa vi trùng tả đều có thể truyền bệnh.

Nguyên nhân của bệnh thì rất hẹp, khác với cả mấy chục nguyên nhân (học mệt nghỉ) của hội chứng tiêu chảy cấp. Nhưng đường lây thì rất rộng. Không cứ chỉ 6 loại thức ăn bị cấm chỉ đâu nhé

Quan đốc xinh trai của chúng ta đang làm điều ngược đời và trái khoáy: mở rộng nguyên nhân gây bệnh để tung hỏa mù che lấp bệnh tả. Trong khi đó, lại thu hẹp những loại thực phẩm có khả năng là trung gian truyền bệnh một cách có chủ đích để khỏi mất mặt sau scandale mắm tôm thịt chó.

Tôi, Nikonian tài hèn đức mọn, chỉ khuyên dăm điều nhỏ như con thỏ, thế này này:

– Ăn thức ăn nấu chín. Chỉ ăn rau sạch. Không tiếc của, ăn đồ ăn cũ, ôi thiu

-Uống nước đun sôi để nguội. (Đừng “uống sôi” như BYT khuyên, trừ phi muốn luộc chín bộ đồ lòng của bạn). Tránh xa cà rem, trà đá, café đá, hay các loại “nước tinh khiết” đóng chai đáng ngờ khác.

– Có thể tiểu ngoài đường , nhưng đừng đi tiêu bừa bãi

– Rửa tay sạch sau khi hoàn thành “đệ tứ khoái”

Vậy thôi! Viết mệt rồi, huyết áp lên vùn vụt vì bức xúc quá. Tự thưởng cho mình một chầu thịt chó đóng hộp và mắm tôm tiệt trùng cho nó lành.

PS: Mai mốt tôi có trình luận án tiến sĩ mắm tôm, quí thân hữu nhớ tham dự, vote cho tôi một phiếu bình chọn “thầy thuốc nhân dân” nghen.

HOPE IT HELPS!

Xin hãy lấy sinh mạng người dân làm trọng


Kể từ ngày 23.10.2007, khi trường hợp dịch tả đầu tiên được phát hiện, dù lạc quan cách mấy, không ai có thể cho rằng các nỗ lực phòng chống dịch của Bộ Y tế là thành công, dù chỉ là đạt được “một số thành công nhất định”, theo cách nói của các diễn văn nặng tính phong trào. Đọc tiếp “Xin hãy lấy sinh mạng người dân làm trọng”

Suy nghĩ nhỏ nhân cơn dịch lớn


Có phải “tiêu chảy cấp” nào cũng giống nhau?

Câu trả lời là không! Tiêu chảy cấp là một danh từ dùng để chỉ một loạt bệnh khác nhau, do nhiều tác nhân khác nhau, với nhiều mức độ khác nhau. Từ những dạng rất nhẹ như tiêu chảy do dùng thuốc, đến những dạng trung bình như các loại tiêu chảy do Rotavirus, E. coli…Thông thường, những dạng tiêu chảy từ do các tác nhân kể trên thường nhẹ, mức độ lây lan không rộng và thường không ảnh hưởng đến tính mạng. Những dạng tiêu chảy này khác hẳn với những dạng tiêu chảy nặng, trầm trọng, làm bệnh nhân mất nước nhanh chóng, đi vào trụy tim mạch và tử vong cấp kỳ. Do đó, không phải vô cớ mà tất cả các sách giáo khoa y học đều dùng những tên bệnh riêng biệt để định danh những dạng bệnh tiêu chảy nguy hiểm này: bệnh tả do vi trùng Vibrio cholerae, bệnh lỵ trực trùng do Shigella, bệnh thương hàn do vi trùng Salmonella…

Gọi bằng tên riêng, ắt hẳn không phải để chơi chữ, hay để.. nghe cho hay, mà nhằm để đánh thức sự cảnh giác cao độ, và tiếp theo là những động thái tích cực nhất, khẩn trương nhất từ phía giới chức y tế và người dân, để ngăn chặn các bệnh dịch này phát tán và để tập trung cứu chữa những trường hợp bị bệnh. Chắc chắn là phải khẩn trương đến mức cao nhất, vì mức độ lan rộng của dịch tả thì vô cùng nhanh chóng và không bị giới hạn bởi bất cứ ranh giới địa lý tỉnh thành, hay quốc gia nào. Đồng thời, nếu không kịp thời phát hiện và điều trị như dịch tả, tỷ lệ tử vong của bệnh có thể lên đến 30-50%[1].

Do đó, gọi đúng tên, đúng bệnh là bước đầu tiên trong việc tiếp cận và xử lý bất cứ tình huống bệnh tật nào, ở mức độ cá nhân hay quốc gia. Mọi uyển ngữ (euphemism) như “tiêu chảy cấp”[2], hoặc gần đây hơn là “tiêu chảy cấp nguy hiểm”, có thể tạo ra hai thái cực: hoặc khinh suất, hoặc hoang mang trong cộng đồng. Vì vậy, dưới cái nhìn của người trong nghề, thật lạ lùng khi thấy bệnh tả, được gọi trại đi trên các phương tiện truyền thông, chứ không được gọi đích danh như bản chất nguy hiểm vốn có của nó. Trong khi đó, cán bộ y tế lại được tập huấn về phác đồ chống dịch tả (?) (nhấn mạnh của người viết). Có nên chăng, chỉ có người trong nghề mới được hiểu biết tường tận về một sự thật mang tính y học thuần túy?

Còn mắm tôm thì sao?

Một nguồn tin từ Vietnam net cho biết “90% số bệnh nhân khi hỏi đã nói họ mắc tiêu chảy cấp sau khi ăn thịt chó mắm tôm, số còn lại ăn lòng lợn, tiết canh, rau sống, gỏi hải sản…”, nên “Bước đầu các chuyên gia y tế nhận định, nguyên nhân bệnh tiêu chảy cấp nguy hiểm xuất hiện từ nguồn mắm tôm và thực phẩm tươi sống ở các vùng bị ngập lụt ở Thanh Hóa vừa qua”[3] Thật sự, dưới cái nhìn của khoa dịch tễ học, những kết luận này quả thực rất vội vã và chủ quan. Có thể, 100% người mắc bệnh tả đã ăn mắm tôm, nhưng không thể dựa vào đó để qui kết ngay mắm tôm là nguyên nhân trực tiếp của bệnh dịch được. Nói như vậy, cơm phở, nước mắm, cũng có thể là nguyên nhân của dịch. Vì có người Việt nào lại chê cơm, chê nước mắm trong bữa ăn hằng ngày, trừ phi đã “chán cơm thèm đất”. Kết luận này chỉ có thể là đúng đắn nếu ghi nhận được qua một nghiên cứu bệnh – chứng (case-control study). Qua đó, người ta phải chứng minh được người ăn mắm tôm có nguy cơ bị mắc bệnh tả cao hơn nhiều lần so với người không ăn, với sai số dưới 5%, theo qui định của khoa thống kê sinh học. Ở mức độ này, người ta chỉ có thể nói mắm tôm là mới là yếu tố nguy cơ (risk factor), chưa hẳn là nguyên nhân trực tiếp. Chỉ có thể chứng minh được mốt quan hệ nhân quả mắm tôm – dịch tả nếu như chúng ta tìm được vi trùng tả, với một xác suất rất cao, trong các mẫu mắm tôm được ăn từ người bệnh. “Qui chụp” cho mắm tôm một cách vội vã như vậy, vừa không thuyết phục về khoa học, vừa tạo ra một tâm lý khinh nhờn rất thường gặp ở dân ta: “tôi không ăn mắm tôm, vậy là tôi không bị mắc bệnh tả”. Mà chỉ với một kiến thức y học thường thức, ai cũng biết bệnh tả là một bệnh lây qua đường phân – miệng (fecal-oral route). Bất cứ các thực phẩm nào (nước đá, rau sống, thịt cá, nước mía, các loại mắm khác…) bị nhiễm vi khuẩn tả đều có thể là nguồn truyền bệnh, không chỉ riêng mắm tôm! Và cũng đừng quên, khả năng truyền bệnh của mắm tôm tùy theo nó có chứa vi trùng tả hay không, chứ không phải nó đặc hay loãng như nhận định của một giới chức y tế.[4] Đó là lý do giải thích những động thái khá lúng túng của các giới chức y tế trong việc xử lý mắm tôm, và có thể là đề tài của nhiều cuộc họp khác.[5]

Do đó, tiêu hủy mắm tôm là một quyết định có vẻ khá cảm tính và thiếu cơ sở khoa học nghiêm túc. Thay vào đó, nên ban hành những khuyến cáo gắt gao, triệt để về vệ sinh ăn uống, thẳng tay với tất cả các loại thực phẩm kém vệ sinh vẫn còn nhan nhản trên các đường phố của chúng ta, chắc chắn sẽ hiệu quả và không cần bất cứ nghiên cứu nào để chứng minh, vì đã quá rõ.

Kinh nghiệm dập tắt dịch SARS hay phòng chống sốt rét của Việt nam đã được thế giới công nhận như một mẫu mực trong việc kiểm soát bệnh dịch[6] Một lần nữa, cơn dịch này là một thử thách về tính chân xác khoa học và tính minh bạch, hiệu quả trong việc xử lý dịch bệnh của giới y tế Việt nam. Gọi đúng tên, xử lý đúng vụ việc như bản chất nghiêm trọng vốn có của nó, là cách hành xử khoa học duy nhất đúng trong thời điểm dịch bệnh đang bùng phát từng ngày.

Sẽ không ai khen ngợi chúng ta về khả năng chơi chữ trong y học cả (!)


[1] Technical guidelines – Trung tâm Kiểm soát bệnh tật Hoa kỳ – http://www.cdc.gov/cogh/descd/modules/ddm/tableof.htm

Tản mạn về nghề


“The good physician treats  the disease, the great physician treats the person who get the disease”

(Sir William Osler)

____________________________________________________________

Tôi đã trở thành bác sĩ tổng quát như thế nào?

Tôi gặp T. lần đầu tiên trong những ngày mới bắt đầu hoạt động của bệnh viện. Ngày đó, T. là một cô bé gầy gò, nhứt nhát, đầy mặc cảm với một cơ thể đầy sẹo sau một tai nạn giao thông kinh khủng. T may mắn thoát chết, nhưng tâm hồn nhạy cảm và non nớt của em đã không còn lành lặn như trước. Gia đình túng quẫn, mới chia tay với bạn trai, đầy tự ti vì những vết sẹo xấu xí trên người…đã làm không ít hơn một lần, T nghĩ đến ý định tìm đến cái chết để giải thoát. Buổi chiều hôm đó, tôi đã mất không ít thời gian để nghe T nói, kể lể về những thống khổ mà bất cứ người bệnh trầm cảm nào cũng phải chịu đựng. Vài tháng sau, dưới tác dụng kỳ diệu của thuốc chống trầm cảm, T quay lại với nụ cười mở rộng, chia sẻ với tôi những bức hình em mới chụp với bạn bè, nhí nhố, hồn nhiên như bao thiếu nữ cùng trang lứa. Thở phào nhẹ nhõm! Ít nhất là tôi không phải chứng kiến cảnh T nằm thoi thóp ở khoa cấp cứu vì ý định quyên sinh dại dột.

Bẵng đi một thời gian, tôi nhận được một lá thư dài 6 trang giấy học trò của T, nét chữ còn ngây thơ như bao cô cậu choai choai khác. T viết thật nhiều về niềm vui được học hành, làm việc như bình thường, về niềm vui sống mới đang quay lại, về hạnh phúc có bạn trai mới. Và “con mong BS sống hoài, để đến dự đám cưới và chúc phúc cho con trong ngày đó!”

…..

Đã bao nhiêu năm tháng trôi qua, kể từ ngày chân ươt chân ráo bước vào phòng hồi sức bệnh nhân sốt rét ác tính, vật lộn với tử thần chết chóc mỗi ngày, tôi cũng chưa thể hình dung được công việc của môt BS Tổng quát[1] có thể đầy ắp niềm vui và sự tưởng thưởng đến như vậy. Nếu như công việc trước đây của người làm hồi sức chỉ thuần túy khía cạnh kỹ thuật để duy trì sự những thông số sinh học lạnh lùng, thì người làm phòng khám ngoại trú phải đối diện với khá nhiều những vấn đề xã hội, với những hệ lụy trên sức khỏe và tinh thần của nó. Này nhé, cái gan của ông X lại dở chứng sau một phi vụ bất động sản kếch xù. “Làm ăn nó thế, bác sĩ thông cảm, không nhậu anh em lại cho mình không thiệt tình”. Nhìn tờ xét nghiệm trên tay, với vẻ mặt nhăn nhó đầy hối lỗi của ông X, không biết nói thế nào cho phải, vì tôi có biết thế nào là chuyện kinh doanh bia bọt. Hay bà Q, người đàn bà khốn khổ vì bệnh tiểu đường đầy biến chứng, tự dưng đường huyết, sau khi ổn định một thời gian, lại bay vọt lên trời. Hỏi ra mới biết, chồng bệnh nặng, làm ăn thua lỗ, bệnh nhân tôi rầu rĩ, không thiết gì chuyện thuốc men, chăm sóc bản thân. Hay P., một doanh nhân tài cao học rộng, tính tình cởi mở, lại đem vợ mới cưới đến nhờ tôi tư vấn về những lục đục phát sinh sau tuần trăng mật. Nói với T điều gì sau cuộc khám bệnh nhiều nước mắt của vợ T, như một thầy thuốc, hay như một người bạn theo kiểu “giữa cánh đàn ông” với nhau?

Những ví dụ như vậy thì vô vàn trong suốt gần 4 năm làm một bác sĩ tổng quát tại FV. Nó muôn hình vạn trạng, nhưng điều rõ ràng nhất mà tôi cảm nhận được, là niềm vui được bệnh nhân yêu mến, chia sẻ những điều thầm kín, riêng tư nhất một cách đầy tin cậy, chân thành. Đồng thời, tôi cũng nhận ra dưới con mắt nghề nghiệp, cái nghề Y khoa tổng quát đầy thách thức và rộng lớn biết chừng nào. Vì nó bao trùm gần như tất cả các vấn đề về sức khỏe thể chất và tâm lý. Vì những than phiền của bệnh nhân khi đi khám bệnh thì nào có phân biệt chuyên khoa. Cô X. thấy mệt mỏi vô cớ, đi khám tổng quát một cái. Ông T thấy nước tiểu mình có kiến bu, cũng “tổng quát” một cái. Bà N. bị chồng hành hạ mỗi ngày, sinh trầm uất đau đầu kinh niên, cũng lò dò đi gặp bác sĩ tổng quát. Cô V. không gài được nút quần jeans vì bụng to ra, cũng nhờ bác sĩ tổng quát tư vấn về dinh dưỡng. Tất tần tật những chuyện lớn nhỏ trong đời, ngừơi ta đều một hai ba đi gặp BS tổng quát. Nhưng chớ có coi thường những vấn đề tưởng chừng như nhỏ nhặt này. Sau những khảo sát chi tiết, cô T bị một hang lao tổ bố bên phổi phải, kèm viêm gan siêu vi C cũng kha khá. Bà N bị trầm cảm nặng, có ám ảnh tự sát. Ông T bị tiểu đường, có biến chứng suy thận và xuất huyết võng mạc mắt. Còn cô V, ái chà, một khối ung thư buồng trứng, có cổ trướng và di căn đầy trong ổ bụng.

Tất cả những bệnh nhân tôi đã gặp ở trên, là ví dụ điển hình nhất cho một khái niệm mới của y học hiện đại, là tiếp cận bệnh nhân theo vấn đề, chứ không phải theo bệnh. Vì bệnh nhân đến với ta để than vãn về những vấn để họ đang chịu đựng, chứ đâu phải vì căn bệnh XYZ nào đó mà cả thầy thuốc lẫn bệnh nhân đều chưa biết trong lần khám bệnh đầu tiên. Cách tiếp cận theo vấn đề đó, khác với những sách thuốc mô tả chi tiết về một loại bệnh tật cụ thể, và khai sinh một ngành học mới mẻ của y học, khoa Y học ngoại trú (Ambulatory Medicine). Nó khó khăn và đầy thách thức!. Vì từ những thông tin mơ hồ, manh nha, chưa định hình rõ rệt đó, người BS tổng quát phải thính nhạy, cộng thêm với một hiểu biết sâu rộng về những chuyên khoa khác, để sàng lọc một cách hệ thống và bàn bản, tiếp cận được thực chất vấn đề và giải quyết rốt ráo, trong thời gian ngắn nhất, tự mình hay với sự hợp tác của những chuyên khoa khác. Trí óc con người thì giới hạn, mà bệnh tật thì mênh mông, làm sao khoa Y học ngoại trú mà tôi đang say mê nghiên cứu, lại có thể là một chuyên khoa dễ dàng và tầm thường, như không ít người lầm tưởng.

Trong một bài báo mới đăng tải trên tạp chí New England Journal Medicine[2], BS Beverly Woo viết lại những kinh nghiệm khá cảm động của mình trong hơn 30 năm hành nghề tổng quát, sống chết, vui buồn cùng bệnh nhân, từ lúc một bệnh nhân B. mới khởi bệnh, thất nghiệp, li dị, tái hôn, lìa đời…Nghĩa là người bác sĩ tổng quát, khi chăm sóc bệnh nhân, cũng được xem là “người nhà”, hay là bác sĩ gia đình theo cái nghĩa dễ thương và thân thiết nhất của từ này. Tuy vậy, bài báo của bác sĩ Woo lại nêu ra một thực tế đáng buồn. Là số sinh viên ghi danh học chuyên khoa Nội tổng quát đã giảm đi hơn một nửa, so với những chuyên khoa hái ra tiền khác. Mặc dù số lượng bệnh nhân có nhu cầu giải quyết bệnh tật của mình qua một thầy thuốc tổng quát tốt và tin cậy ngày càng tăng. Những tình cảm chân thành và cảm động mà BS Woo kể lại, tôi cũng được chia sẻ, đón nhận từ những bệnh nhân của mình. Vì bệnh tật thì ở đâu cũng vậy, cũng ác hiểm, cũng hủy diệt như nhau. Mà số bệnh tật mà nền y khoa hiện đại có thể chữa khỏi, thực tình mà nói vẫn không được bao nhiêu. Như cao huyết áp, tiểu đừơng, khá nhiều bệnh tim, thận, phổi…, còn sống là còn phải thuốc thang, còn phải gặp thầy thuốc như cơm bữa.

Thế nên cứ mỗi lần làm sao một chẩn đoán bệnh lý mãn tính, tôi biết rằng tôi sắp bước vào một cuộc chiến mới, dằng dai, vất vả cùng với một con người bằng xương bằng thịt đang ngồi trước mặt. Mà cũng thật kỳ lạ, trong cuộc tranh đấu để đẩy lùi bệnh tật của tôi và bệnh nhân tôi, gần như trong mọi trường hợp, đã hình thành một sự gắn bó thân thiết, lâu dài và bền chặt không ngờ. Tỷ như bà T, người đàn bà tội nghiệp bị một sang chấn tinh thần nặng nề trong đời, đến mức chỉ thiếu thuốc uống vài hôm là đến gặp bác sĩ câu trước câu sau thì mắt đã đầy lệ. Vậy mà đã ba cái Tết rồi, năm nào bà cụ cũng đẩy cửa phòng tôi với một giỏ bánh gai đen gói lá chuối khô. “Chút quà quê, nhà tự làm, biếu bác sĩ dùng lấy thảo!” Trời ạ, dù không được ai dạy dỗ về cái môn PR (giao tế nhân sự), tôi cũng hiểu được ngay là chớ có dại dột từ chối món quà “lấy thảo” hết sức dễ thương này. Hãy mau mắn đón nhận không chút ngần ngại món quà mộc mạc này, vì nó là tấm lòng của một bà mẹ quê nơi một góc bếp nghèo xa xôi nào đó. Hãy thử khách khí từ chối đi, nụ cười vừa thoáng hiện trên khuôn mặt héo hắt đó sẽ vụt tan biến, ánh mắt sẽ tối sầm lại trong khoảng khắc cho xem.

Vựơt lên trên những lời chúc tụng mà ta thường nghe vào ngày thầy thuốc hàng năm, được làm thầy thuốc cho những người bệnh như bà cụ T, thực sự là một niềm vinh dự và sung sướng của đời thầy thuốc! Hay với lá thư non nớt của T, kẻ chỉ mong tôi sống hoài để dự đám cưới của em! Trong những phút giây nặng nề của đời sống nghề nghiệp, tôi đã vịn vào những dòng chữ non dại đó để bước tới, như Phùng Quán đã “vịn câu thơ mà đứng dậy” khi xưa vậy.

Nhưng không chỉ có thế! J., bạn đồng nghiệp người Bỉ thông tuệ của tôi, sau một phút tư lự, đã nói một điều hết sức thâm thúy về một khía cạnh khác của nghề y. “Vì tính chất mang lại sự sống, nghề nghiệp của chúng ta là cái nghề được tưởng thưởng nhiều nhất trên đời. Nhưng điều oái ăm là niềm vui cứu người thường qua mau, trong khi những tổn thất tinh thần từ cái chết của bệnh nhân mang lại thì lại đeo đẳng dai dẳng trong ký ức”. Điều minh triết mà J nói, đã làm tôi không ngừng ngẫm nghĩ về cái khía cạnh hư ảo của nghề nghiệp! Để xưng tụng người thầy thuốc, người ta nghĩ ngay đến những phút giây vinh quang đầy hoa và những lời chúc tụng, cảm tạ từ bệnh nhân và gia đình. Ít ai thấu hiểu được sự hụt hẫng của một con người, đã chiến đấu, đã sát cánh với một con người khác qua nhiều ngày, nhiều năm, nhiều tháng. Cuộc chiến đấu vì bệnh tật đó lâu dài, dai dẳng đến nỗi ta và bệnh nhân ta trở nên gần gũi, thân quen như hai người bạn cố tri. Nhưng đến một ngày, ta chỉ còn một mình, vì sự hủy diệt của bệnh tật, cuối cùng đã chiến thắng. Cái ám ảnh về sự ra đi của một con người đã rất đỗi thân quen trong những ngày dài sát cánh, quả thực là một ký ức không lấy gì làm dễ chịu chút nào, nếu không nói là một ảm ảnh, bất lực và ngậm ngùi.

Là thầy thuốc, tôi không có quỵền chọn lựa hay từ chối bệnh nhân, hay không có quyền “mỗi ngày tôi chọn một niềm vui” như nhạc sĩ họ Trịnh. Nhưng ngày lại ngày, sau những giờ phút tất bật ở bệnh viện, tôi về nhà với cái cảm giác của một kẻ được đốn ngộ, vì đã được nhận nhiều sự chia sẻ và tin cậy từ những người trước lạ sau quen.

Có như thế, sự mất mát từ những bệnh nhân đã ra đi mới bớt phần nặng nề. Để một ngày kia, vì lẽ sinh ký tử qui, tôi cũng sẽ về gặp họ, như một người bạn mãi tất bật ở dương gian, nay về nhà gặp lại bạn cũ thân quen.

Ai cũng sẽ có một ngày, phải không?

Uống rượu lợi chăng?


“Ly rượu ngon là ly rượu bắt đầu và chấm dứt với một nụ cừơi”

(William Sokolin)

 

Nguồn gốc của rượu thì xa xưa và mất dấu trong lịch sử hun hút của nhân loại. Đông sang Tây, từ Trung hoa bao la cho đến vùng đất xa xôi thuộc văn minh Lưỡng hà, Cận Đông, đâu đâu người ta cũng tìm thấy những dấu vết của những bình rượu tối cổ đến bốn năm ngàn tuổi. Dân tộc hay cá nhân nào là tác giả của thức uống bất hủ này, không nhà sử học nào khẳng định được, mặc dù rượu gần như hiện diện trong tất cả các biến cố của lịch sử nhân loại. Đọc tiếp “Uống rượu lợi chăng?”