Aspirin, huyền thoại và thực tế

Tính chất giảm đau, hạ sốt của vỏ cây liễu được y học biết đến từ thời cổ đại. Đến năm 1853, một nhà hoá hoc Pháp, Charles Frederic Gerhardt, mới tổng hợp được acetylsalicylic acid và đăng ký bản quyền hợp chất này dưới cái tên aspirin vào ngày 6.3.1899. Từ ngày đó, aspirin một mình “danh trấn giang hồ” với bản quyền đăng ký sản xuất ở trên 80 quốc gia, như một thuốc giảm đau hạ sốt thần hiệu.

Thuốc giảm đau mà lại trị bệnh tim, có thật không?
Xin thưa, thật 100%. Cần phải biết, bệnh tắc nghẽn động mạch vành do cục máu đông, có nguồn gốc chủ yếu từ tiểu cầu. Các tế bào máu này làm cho máu ta đông lại, hình thành một nút chặn tiểu cầu để ngăn chặn sự mất máu tiếp diễn. Tuy nhiên, nếu như cục máu đông chỉ bằng đầu bút chì này lắng đọng lại trong động mạch vành, hệ thống mạch máu thiết yếu để nuôi quả tim này sẽ bị tắc nghẽn, dẫn đến những cái chết đột ngột mà ta gọi là chứng nhồi máu cơ tim.
Aspirin, làm giảm sự kết tập của tiểu cầu, giúp máu đông khó lắng đọng trong lòng mạch máu, nhất là động mạch vành. Do đó, không ngạc nhiên khi lướt qua hàng chục công trình nghiên cứu y học dài dằng dặc, chi chít những con số thống kê, người ta khẳng định được tác dụng to lớn của aspirin trong việc giảm thiểu nguy cơ nhồi máu cơ tim, chết đột ngột…trên những người đã có sẵn bệnh lý động mạch vành. Y học gọi aspirin là một thành tố bắt buộc trong phòng ngừa thứ phát (secondary prevention), nghĩa là phòng ngừa bệnh tái phát ở những người đã có bệnh sẵn.

Mặt trái của tấm huân chương
Tuy nhiên, thuốc không phải là kẹo, aspirin cũng có tác dụng phụ, như tất cả các dược phẩm khác. Ít nhất, người ta biết rõ aspirin làm tăng nguy cơ xuất huyết đường tiêu hoá và đột quị do xuất huyết não. Tuy nhiên, tỷ lệ của những tác dụng phụ này thì quá thấp, khi đặt bên cạnh lợi ích to lớn của aspirin, nếu được sử dụng đúng chỉ định, có cân nhắc, dựa vào những bằng chứng y học chắc chắn. Đó là lý do vì sao những khuyến nghị mới nhất của các Hiệp hội Tim mạch đều cổ vũ việc sử dụng aspirin cho những người đã có bệnh mạch vành. Nhưng vẫn không quên lưu lý về hai biến chứng kể trên. Với phòng ngừa thứ phát, lợi quá nhiều so với hại, nên “quên” kê toa aspirin có thể làm thầy thuốc mắc tội thực hành sai sót (mal practice) như chơi.

Vậy thì tôi có uống aspirin cho “bổ tim” được không?

Đã không dưới 1 vạn lần, tôi nhận câu hỏi này từ nhiều người khoẻ mạnh hoàn toàn, không hề có bất cứ nguy cơ tim mạch nào đáng kể. Họ có lý khi hỏi như vậy. Vì nhiều người trong ngành, cũng lẫn lộn một cách khá ngô nghê khi nói đến tác dụng phòng ngừa tiên phát (primary prevention), nghĩa là phòng ngừa trước khi có bệnh tim của aspirin. Nhiều nghiên cứu cũng “cày xới” trong đống dữ liệu khổng lồ để giải đáp câu hỏi này. Dựa vào y học thực chứng (evidence-based medicine), khuyến cáo mới nhất của Hội Tim Hoa kỳ không khuyến cáo thầy thuốc kê toa aspirin theo kiểu đại trà để phòng ngừa cho những người không có bệnh tim mạch. Hơn thế nữa, bản khuyến cáo chi tiết này còn hướng dẫn cách tính toán nguy cơ bị bệnh mạch vành trong 10 năm của một cá nhân cụ thể, dựa vào 5 thông số: tuổi, hút thuốc, cholesterol toàn phần, cholesterol tỷ trọng cao (HDL), huyết áp tâm thu. Theo đó, những người có một lối sống lành mạnh, có chỉ số nguy cơ bệnh mạch vành ≤ 0.06% mỗi năm sẽ hoàn toàn không cần uống aspirin phòng ngừa. Lý ho: hại nhiều hơn lợi, tác dụng phụ nhiều hơn tác dụng bảo vệ. Ngược lại, những người có nguy cơ ≥ 1.5%/năm, phải được sử dụng 100 mg aspirin mỗi ngày. Nằm giữa 2 khoảng nguy cơ này, phải cân nhắc thêm các yếu tố như tiểu đường, kém hoạt động thể lực…để quyết định cho việc dùng aspirin dài hạn, với những lợi ích (và nguy cơ) của nó.
Tóm lại, cho đến nay, chưa có khuyến cáo của bất kỳ hiệp hội tim mạch có uy tín nào chủ trương sử dụng aspirin đại trà để phòng ngừa tiên phát, nếu không cân nhắc kỹ các yếu tố nguy cơ tim mạch khác.

Bài học từ aspirin
Những nghiên cứu đồ sộ về lợi ích và nguy cơ của aspirin là ví dụ điển hình cho một khuôn mẫu mới của y học hiện đại: y học dựa trên bằng chứng. Phải có nghiên cứu, tính toán hẳn hòi trên một số đông quần thể bệnh nhân mới đi đến kết luận chính xác, trước khi áp dụng cho từng cá thể. Người thầy thuốc, sau khi đã nhanh chóng nhập các dữ liệu của bệnh nhân vào một bảng tính, có thể nói với bệnh nhân như thế này:
“Thưa bà, dựa vào các thông số sinh học của bà, tôi tin rằng nếu bà sử dụng aspirin, nguy cơ tuyệt đối bị tim của bà sẽ giảm 0.31% mỗi năm. Bên cạnh nguy cơ (thấp hơn nhiều) của biến chứng xuất huyết tiêu hoá và xuất huyết não

Hoặc:
“Thưa ông, sau khi tính toán nguy cơ tim mạch của ông, việc sử dụng aspirin để phòng ngừa là hoàn toàn vô ích, bên cạnh những tác dụng phụ nói trên”


Hành nghề như thế, chẳng hay ho, chính xác và có lợi cho bệnh nhân hơn là dùng thuốc theo kiểu truyền miệng, rỉ tai, bắt chước một cách mù quáng và kém hiểu biết hay sao?

Hành nghề như thế, lại an toàn cho cả thầy thuốc lẫn bệnh nhân. Có lôi nhau ra toà, thì cứ chiếu theo nghiên cứu mà phán xử. Thay vì phân bua: “Các đồng nghiệp khác hay sử dụng aspirin, tôi cũng thế” (?)

Đừng suy nghĩ về aspirin theo kiểu “xuyên tâm liên” hồi đó. Nhà nhà trồng xuyên tâm liên, người người uống xuyên tâm liên, cho đến chết mổ xác vẫn còn một đống xuyên tâm liên trong bụng (?). Nhà y học vĩ đại nào nghĩ ra chiêu xuyên tâm liên, chịu!

One thought on “Aspirin, huyền thoại và thực tế

  1. Quoc Nguyen

    Sáng nay sang phòng khám Victoria, trong khi chờ đợi đến lượt mình, tranh thủ chụp tờ báo Tuổi Trẻ lướt mắt chơi, bỗng thấy tên sư huynh nên msg phát chọc chơi, rồi nhận được cái response thiệt mắc cười…hehe

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s