Trái tim lớn không lỗi nhịp


Bài này tôi viết chung với một người bạn, sẽ đăng trên giai phẩm Xuân báo SGTT. Post lên cho bà con đọc cho đỡ ấm ức, sau khi đọc những entry rất củ chuối về các quan Ngự y tài cao đức trọng nhà mình.


Chỉ cần vào Google và gõ “Thach Nguyen” “cardiologist” (chuyên gia tim mạch học) là trong 0,26 giây bạn sẽ có 87 kết quả. Tuy nhiên, đằng sau đó là một khối lượng rất lớn những gì mà một con người có thể làm được cho y học, hay nói đúng hơn là cho ngành tim mạch học can thiệp. Đặc biệt hơn, đó là một người đã làm rạng danh nước Việt trên toàn thế giới. Nếu không nói ra, khó có thể hình dung người đàn ông tầm thước đang ngồi trước mặt tôi là chủ nhân của nhiều tước hiệu khoa học cao quí mà chính giới tim mạch học Mỹ phải mơ ước: Trưởng khoa tim mạch của BV St Mary, Hobart, Indiana; thành viên gốc Việt đầu tiên và duy nhất của Ban Chấp hành Hội Tim mạch học Hoa Kỳ, tác giả và chủ biên của nhiều sách giáo khoa và tạp chí tim mạch học lừng lẫy. Với công lao là một trong những người tiên phong đặt nền móng cho nền tim mạch học can thiệp của thế giới, không có gì ngạc nhiên khi cái tên Thạch Nguyễn được vinh danh trang trọng trong các kỷ yếu Who’s Who in America, Who’s Who in the World, Who’s Who in Science and Engineering, Who’s Who in Health Care and Medicine liên tiếp từ năm 2000 đến 2007

Chào đời tại Hà Nội năm 1953, cùng gia đình di cư vào Nam, sau khi tốt nghiệp Đại học Y khoa Huế năm 1978, bác sĩ Nguyễn Ngọc Thạch về Kiên Giang làm việc. Sống trong một đất nước mới thống nhất với nhiều điều chưa thể chấp nhận dễ dàng, ông tìm đến Mỹ. Năm 1980, chọn con đường nội tim mạch, ông phải học thêm 5 năm nữa. Trước đó vài năm, ở Mỹ người ta bắt đầu nói đến tim mạch học can thiệp (interventional cardiology). Ngày nay, việc một bác sĩ luồn ống thông vào các buồng tim, bơm bóng để nong mạch vành (mạch máu nuôi tim) rồi đặt giá đỡ (stent) để tái thông mạch máu trong nhồi máu cơ tim không có gì xa lạ. Nhưng 30 năm trước, thì đúng là thần kỳ. Bị lôi cuốn trước cái mới mẻ, nên ông dấn thêm một bước, nghiên cứu sâu về tim mạch học can thiệp. Ông nói: “Những người đi đầu đều tự học vì phải đến năm 1990 người Mỹ mới có chương trình đào tạo chính thức”. Con đường mới đầy chông gai, hiểm trở, làm nản chí nhiều người, nhưng với ông thì khác, ông muốn thành công: “Chìa khóa thành công cho con người ở bất kỳ xã hội nào, đặc biệt là xã hội phương Tây, đó là có ý tưởng mới, biết lắng nghe những quan niệm mới và đặt vấn đề làm sao cho mọi chuyện được tốt hơn”.

Làm việc tại một bệnh viện ở Indiana từ năm 1987, GS Thạch bắt đầu được nhiều người biết đến vì ông đã chủ trì nhiều nghiên cứu khoa học lớn, đặt nền móng cho những hiểu biết mang tính đột phá về tim mạch học can thiệp và bệnh lý mạch vành. Nếu như trước đây, nguy cơ tử vong của một bệnh nhân bị nhồi máu cơ tim rất cao, thì với những hiểu biết từ các nghiên cứu nền tảng của GS Thạch Nguyễn và cộng sự, khả năng được cứu sống của bệnh nhân đã cải thiện một cách ngoạn mục. Năm 1992, ông được Trung Quốc mời sang giúp phát triển tim mạch học can thiệp. Thời điểm đó, ở ba bệnh viện lớn ở Bắc Kinh, Quảng Châu, Trường An người ta bắt đầu điều trị bệnh mạch vành bằng nong bóng, đặt stent. Trước đó, chuyên gia Mỹ đến giúp bằng cách tự tay làm biểu diễn, hình ảnh của cuộc can thiệp được truyền ra một màn hình lớn để nhiều người xem và học tập. Nhưng GS Thạch Nguyễn thì khác, ông để bác sĩ Trung Quốc làm, đứng sau cầm tay chỉ việc, nên học viên tiến bộ rất nhanh.

Những chuyến đi giảng dạy khắp thế giới đã cho GS Thạch cơ hội gặp gỡ một số đồng nghiệp VN và nhận lời mời về giúp quê hương phát triển nền tim mạch học can thiệp vào năm 1994. “Tại sao ông không về VN dạy mà lại sang Trung Quốc?”, tôi hỏi. Suy nghĩ hồi lâu, ông trả lời: “Vì tôi muốn sửa lại lịch sử. Trước đây người VN học người Trung Quốc, giờ đây người Trung Quốc phải học lại người VN”.

Suy nghĩ thì độc đáo và mới mẻ, nhưng để thành công, theo GS Thạch, điều quan trọng là người ý tưởng mới phải tiên phong thể hiện nó. Ông nói: “Cách đây 4 năm, hai đại danh sư tim mạch học can thiệp ở Mỹ bị cho thôi việc vì không nghĩ ra được điều gì mới mẻ. Một người làm việc ở Mayo Clinics và một ở Đại học Emory”. Vì thế, khi quay về hỗ trợ y học VN, GS Thạch cũng mang theo mình những ý tưởng mới. Ông đưa các bác sĩ của Viện Tim mạch quốc gia ra nước ngoài học tập, mang về dụng cụ hỗ trợ bác sĩ điều trị bệnh nhân nghèo, và đặc biệt giúp chuyển giao kỹ thuật nong van hai lá qua da, một phương pháp hữu hiệu, ít tốn kém so với cách thay van mà một vài bệnh viện đang làm. “Nếu cho rằng công việc mình đang làm là hoàn hảo, không cần thay đổi gì cho tốt hơn thì bạn đang tự đào thải mình”, ông nhẹ nhàng nói với tôi. “Một đàng là phương pháp thay van, bệnh nhân chịu nhiều tốn kém và phải uống thuốc chống đông suốt đời; một đàng là can thiệp nong van ít tốn kém, bệnh nhân không phải uống thuốc, chúng ta phải chọn cách sau chứ”

Kể từ năm 1994, năm nào cũng vậy, GS Thạch đi về VN như con thoi giúp phát triển ngành tim mạch học can thiệp còn non trẻ của quê nhà. Ông nhớ lại: “Năm đầu tiên tôi về, Bệnh viện Bạch Mai không có máy chụp mạch vành, trang thiết bị xem như là số 0. Thế mà hơn 10 năm sau, các bác sĩ tim mạch VN ở Hà Nội, Sài Gòn, Huế có thể cạnh tranh với bất kỳ tên tuổi nào trên thế giới về kỹ thuật nong mạch vành và đặt stent, hơn 2.000 ca được nong van 2 lá, kết quả rất tốt mà tỉ lệ biến chứng lại cực thấp. Tôi tin vào một tương lai sáng lạn của ngành tim mạch học can thiệp VN”.

Xã hội, kinh tế VN đang phát triển nhanh, bên cạnh những điều tích cực, vẫn có những cái giá phải trả về sức khỏe. Bệnh tim mạch là một thí dụ, tỉ lệ bệnh trong cộng đồng đang gia tăng, chủ yếu liên quan đến lối sống công nghiệp, ăn uống, cách làm việc. Hàng chục ngàn bệnh nhân tim mạch được trở về với cuộc sống bình thường trên cả nước trong chục năm qua, chắc hẳn chưa ai nghe nói đến cái tên Nguyễn Ngọc Thạch. Nhưng trong tâm trí của nhiều chuyên gia tim mạch VN, ông như nhịp cầu dẫn đưa những kiến thức mới, ý tưởng mới giúp phát triển y học trong nước. Bên tách trà nóng, trong một căn phòng của Trung tâm hội nghị quốc gia nhân Hội nghị tim mạch học can thiệp toàn quốc hồi tháng 10, tôi hỏi ông: “Ngoài sự thông minh, siêng năng trong công việc, để thành công người ta còn cần gì nữa?”. Ông trả lời: “Một ngày kia, TS Pamela Douglas, chủ tịch American College of Cardiology (ACC) hỏi tôi vì sao có thể làm việc thành công với những đồng nghiệp đến từ Trung Quốc, Singapore, Thái Lan, Hàn Quốc, Nhật Bản, Malaysia… tôi trả lời: Chúng tôi làm việc với những nguyên tắc giống nhau: Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín. Đó cũng là 5 phẩm chất cốt yếu của một con người.”

Nói về GS Thạch Nguyễn, một BS mà tôi quen biết đã dành những lời đầy trân trọng: “Với tôi, Giáo sư, anh Thạch, hay thầy Thạch, luôn luôn biểu hiện chói sáng của một nhân cách lớn, một tấm lòng nhân từ với những người khốn khó, và là mẫu mực của một trí thức Việt nam, mang trong lòng một trái tim Việt đẹp đẽ và cao quí. Anh tôi, thầy tôi, GS Thạch Nguyễn, là biểu hiện của sự khôn ngoan, minh triết và nhân hậu của một học giả trong nhiều lĩnh vực. Thật là sung sướng khi có một người anh, người thầy như thế trong đời”

Quả như bạn tôi nhận xét, trái tim và khối óc của GS Thạch đã vượt ra khỏi mọi biên giới quốc gia chật hẹp để trở thành một trong những cột trụ lớn của làng tim mạch học thế giới. Dù ở đâu hay làm gì, trái tim của ông vẫn hòa cùng nhịp đập với các đồng nghiệp, đàn em và bệnh nhân mà ông hết lòng thương mến ở quê nhà. Một con tim không hề lỗi nhịp!

_________________________________________________________________

Sự công nhận đầy trang trọng của y giới quốc tế

Trích lời tựa của BS Eugene Braunwald, Giáo sư danh dự đại học Harvard, Chủ tịch nhóm nghiên cứu TIMI, Bệnh viện Brigham and Women, Hoa kỳ cho ấn bản lần thứ 2 cùa cuốn sách Xử trí các vấn đề tim mạch học phức tạp của GS Thạch Nguyễn, NXB Oxford 2006

“Giáo sư Thạch Nguyễn và các đồng tác giả khác một lần nữa đã trang bị cho chúng ta những vũ khí quan trọng trong cuộc chiến với các bệnh lý tim mạch. Cuốn sách này trình bày rõ ràng những vấn đề rắc rối nhất mà các thầy thuốc tim mạch phải đối mặt, cũng như cung cấp rất nhiều các hướng dẫn hữu ích để giải quyết vấn đề. Cuốn sách kiệt xuất này vô cùng giá trị đối với thầy thuốc tim mạch đang ở tuyến đầu trong cuộc chiến toàn cầu chống bệnh lý tim mạch, cũng như cho những người đang nghiên cứu về lĩnh vực này.”

——————————————————————————————————————–

Chú thích thêm một chút: Engene Brauwald là tượng đài của làng tim mạch học thế giới. Dân tim mạch, nghe thánh danh Brauwald là phải cúi đầu cung kính như Al-Queda nghe tên Bin Laden vậy! Phải biết vậy mới hiểu được ông Anh tui bảnh tới cỡ nào nghen

Advertisements

Nói với con về Tổ Quốc


Copy từ blog của nhà báo tự do Xuân Bình.

Lâu lắm rồi, tôi chưa đọc được bài nào cảm động như thế nào, sau lá thư nói về lòng yêu nước trong cuốn Tâm hồn cao thượng của Amicis. Tôi ước gì tôi có thể viết cho các con mình những dòng tha thiết như thế này, nhưng không thể vì tài hèn sức mọn. Mà cũng không sao, chỉ cần các con trai tôi, đọc những dòng này, là đủ. Một ngày kia, không xa lắm đâu, chúng sẽ hiểu!

Cảm ơn tác giả.

————————————————————————-

Hôm nay con là người trẻ tuổi nhất trong đoàn biểu tình phản đối TQ xâm lược Việt Nam. Lần đầu tiên con đi biểu tình. Lần đầu tiên bố muốn dạy con bài học về tình yêu Tổ Quốc.

Bố định sẽ viết “ Tổ Quốc” sau khi xem xong chương trình thời sự của VTV để nghe ngóng động thái chính thức từ phía chính phủ sau sự kiện này.

Vẫn biết là là vô vọng và đến cuối chương trình không hiểu sao bố đã thiếp đi (Con vẫn biết là bố chưa bao giờ đi ngủ sớm)… Hình như bên tai bố còn vẳng tiếng ông phó thủ tướng kêu gào đội mũ bảo hiểm để…bảo trọng?!

Thật hãi hùng trong giấc mơ bố nhìn thấy có hai Tổ Quốc. Một Tổ Quốc của bố con mình. Nơi có đảo Ngọc Vừng với lũ chim ruồi có mỏ nhọn và rất dài. Nơi có bầy cá nhiều màu bơi tung tăng dưới biển Ninh Vân.

Nơi chúng mình có những lần trượt cát vô cùng lý thú ở mũi Né. Nơi có Đà Lạt mây bay lẫn trong bờm ngựa…

Còn một Tổ Quốc khác của các chú công an những người lạnh lùng nhìn những người đi biểu tình như tội phạm. Những người xua đẩy bố con mình ra khỏi vỉa hè 46 Hoàng Diệu, một con đường mang danh một người dân Việt đã tuẫn tiết khi đất nước bị nạn ngoại xâm.

Chúng ta đã bị đẩy khỏi đường biên của tình yêu nước bằng những lời quát tháo, hích đẩy và cả những lời nói ngớ ngẩn. Một chú mắt trợn ngược nói như quát: chỉ có các ông các bà biết yêu nước? Yêu nước phải đúng pháp luật chứ!?

Bố tiếc cho thái độ ứng xử của những người ra lệnh và những người chỉ biết thừa lệnh. Để có uy quyền như cảnh sát Anh ( một nước dân chủ và giàu có) hay đàng hoàng như quân cảnh Nepal (một quốc gia đói nghèo, độc tài) cũng cần phải mất nhiều thời gian.

Nhưng mà thôi Phim ạ, chuyện đó nhỏ, chúng ta bỏ qua. Hôm nay Bố muốn trao đổi với con về Tổ Quốc- Chiến Tranh và Thái độ của chúng ta.

Dân tộc Việt Nam

Bố không nhớ rõ ai đó đã từng ví dân tộc ta như nàng Kiều. Nay ngã vào tay Sở Khanh, mai không thoát Tú Bà, mốt thoảng qua chút danh giá Từ Hải… Một số kiếp trầm luân đầy ô nhục.

Chúng ta từng chịu 1000 năm Bắc thuộc, hơn một trăm năm Pháp thuộc và hơn nửa thế kỷ bị Trung cộng, Nga Xô, Mỹ xâu xé.

Thế hệ ông bà con từng cay đắng vì câu thơ: “Nếu lịch sử chọn ta làm điểm tựa”. Ôi sao có một thời người ta ngây thơ, hồn nhiên đến vậy.

Ít nhất thì cũng phải để cho những kẻ xâm lược hiểu rằng đi cướp đất không phải là việc thò tay vào túi quần đùi.

Thực lòng bố nhìn đất nước ta mấy chục năm qua thật giống như những quân cờ trong cuộc chơi của những đại bá mà thôi. Những quân cờ trong bàn cờ bố con mình vẫn chơi sau mỗi bữa ăn. Những quân cờ chẳng thể tự nó làm nên chiến thắng.

Chúng ta có Tổ Quốc. Chúng ta phải gìn giữ nó. Nhưng chúng ta đừng điên khùng hoằng dương thần chiến tranh. Nói như nhà thơ Nguyễn Duy, người thua trận đầu tiên luôn là người dân chúng ta. Huân chương ái quốc thì đỏ rực trên ngực những người… xa trận mạc, không bao giờ gần mũi tên hòn đạn. Máu ở đây còn hoa ở đâu?

Trên blog của mình chú Huy Đức có đưa ra bài học Thái Lan một dân tộc tự hào là không phải đương đầu những đế quốc to.

Bố đã từng mua cho con những robot rất đẹp trên đường Rama 2, con đường mang tên ông vua mở đầu cho lịch sử của dân tộc Thái với những hòa ước Bồ, Hà, Anh. Lịch sử dân tộc Thái hôm nay được viết lên từ hòa bình.

Vậy bố viết những dòng chữ này có gì mâu thuẫn với việc đưa con đi biểu tình không? Câu trả lời là : Không!

Lúc này đây, dù ông Lê Dũng có nói chúng ta tụ tập, hoạt động chưa có phép thì chúng ta phải có tiếng nói, hành động của mình để có áp lực cho bản thân và cả cộng đồng cùng tìm kiếm những giải pháp tốt nhất trong việc bảo vệ chủ quyền đất nước.

Ít nhất thì cũng phải để cho những kẻ xâm lược hiểu rằng đi cướp đất không phải là việc thò tay vào túi quần đùi.

Biểu tình để làm gì?

Cuộc chiến bảo vệ chủ quyền chắc sẽ cam go lâu dài và chẳng dễ dàng chút nào. Chúng ta đi biểu tình để ít nhất cũng “hiểu” và… “cảm thông” với những “khó khăn” trong nội bộ những người cầm quyền.

Có nhóm thân Mỹ. Có người thân Trung cộng. Có những người trong số họ đang được chính Trung cộng bảo hiểm cho chiếc ghế quyền lực. Ở Bắc Hàn có người trong số họ còn cầm văn bản và đọc ê a câu: “Nhân dịp này tôi đề nghị chúng ta nâng cốc”.

Cảnh biểu tình hôm 9/12/2007
Hàng trăm người đã tới tham gia biểu tình

Có những người thật tươi tắn ở xứ Phù Tang khi khói hương chưa tan lạnh trên nấm mồ bao người xấu số ở cầu Cần Thơ. Có người còn lên truyền hình đổ vấy cho phương pháp tính toán sai về mức độ của tình trạng lạm phát …Những người này hạnh phúc thật. Chắc vợ con họ chẳng bao giờ phải đi chợ với cái đầu đầy toan tính, với cái miệng leo lẻo mặc cả như mẹ của con.

Chúng ta đi biểu tình cũng là để có cơ hội bộc lộ rõ mình hơn.

Bố dốt tiếng Anh. Trước khi viết khẩu hiệu bố đã cẩn thận gọi điện cho một chú giỏi tiếng Anh để biên tập lại. Vậy mà chúng ta đã viết gì? “Truong Sa- Hoang Sa of Viet Nam”.

Khi hình ảnh của chúng ta được pốt lên không biết bao tờ báo và blog thì cũng là lúc bố cay đắng, nhục nhã khi đọc được một comment: đại diện cho trí thức VN là thế này sao? Chúng ta kém cỏi từ câu nói, từ chữ viết. Chúng ta thua ngay từ những phút khát khao chiến thắng nhất.

Vậy là bài học đầu tiên bố con mình phải học là tự nhìn nhận lại bản thân, nhìn nhận lại Tổ Quốc, nhìn nhận lại phép hành xử của kẻ yếu trong thời loạn lạc. Khi thiếu tri thức, nghèo tiền bạc chúng ta phải nhẫn nhục nhiều, nhiều năm để học cách chiến thắng thôi con ơi!

Khi viết đến đây bố đọc được lời một số người kêu gọi chiến đấu hay loan tin họ đã đánh sập một vài trang web của Trung cộng. Con có đồng tình không? Riêng bố thì không!

Đau thương và mất mát

Bố nhớ lại những ngày đau thương năm 1979. Bao người dân đã gục ngã trước mũi súng kẻ thù. Ở hậu phương bọn học sinh như bố và tất cả mọi người cứ hát váng bài ca “Tiếng súng đã vang trên bầu trời biên giới…” Đài tiếng nói VN phát đi phát lại “Sức mạnh của người VN chúng ta” – bài xã luận đăng trên báo Nhân Dân của ông Hoàng Tùng.

Cần phải học cách để trở thành một dân tộc lớn. Lúc đó chúng ta sẽ tính sổ Tam Sa mà không phải đổ máu dân đen.

Bố không kìm được nước mắt khi nhớ lại bác Minh con đã khóc khi kể về những người đồng đội trong hải đoàn của bác đã chết thảm trước đại pháo của hải quân Trung cộng ở Trường Sa năm 1988. Kể từ đó đến nay, hải quân ta vẫn không đủ sức vượt qua hình ảnh của những tấm bia tập trận của hải quân Trung cộng.

Làm sao để họ không bắt nạt khi mình thua kém về mọi điều? Đã đánh phải thắng. Đánh để thua thì chỉ nướng dân chứ không phải là yêu nước. Con hãy tự nghĩ về việc cần làm của mình.

Bản thân bố sẽ tiếp tục đi Trung Quốc nhiều hơn để hiểu vì sao Trương Khiên mở đường sang Tây vực? Vì sao Trịnh Hòa vượt Ấn Độ Dương? Vì sao Lý Bạch viết thơ… say?

Sáu năm qua bố đã đi từ Thượng Hải qua Cam Túc Đôn Hoàng, từ đáy bể tắm của hoàng hậu Trung Hoa tới đỉnh Everest, từ hạ nguồn tới thượng nguồn Hoàng Hà hay nhiều điểm quan trọng của Vạn Lý Trường Thành…

Bố luôn tự hào là một trong những nhà báo có nhiều bài viết nhất về văn hóa Trung Quốc. Cần phải học cách để trở thành một dân tộc lớn.

Lúc đó chúng ta sẽ tính sổ Tam Sa mà không phải đổ máu dân đen. Phải tìm mọi cách để dụ người Tàu vào một thế trận nào mà ở đó sức mạnh của người VN chúng ta là vượt trội!

Bài học ấy ông Lý Thường Kiệt vẫn để lại ở gần đền bà chúa Kho nơi gia đình mình hay đi lễ. Bài học ấy ông Trần Hưng Đạo còn cất dưới đám cỏ bên bờ sông Lục Đầu Giang nơi con vẫn hay vầy bùn mỗi lần bố con mình đi Kiếp Bạc. Bài học ấy ông Trần Khánh Dư vẫn để lộ trong những con sóng vỗ mạn tàu những lần bố con mình lang thang Vân Đồn…

À tí nữa thì quên, thứ bảy tuần trước chúng mình đạp xe một vòng quanh hồ Tây. Chúng mình đọc lại rất nhiều tư liệu lịch sử. Con có kế nào như Khổng Minh Không lấy hết đồng đen của Tàu đúc một cái chuông xong rồi lùa con trâu đại bá xuống đáy hồ Tây chơi một lần cho đã. Học xong bài đi rồi nghĩ kế nhá! Bố đợi!

Con tim thì sôi máu – Nguyễn Hữu Liêm


Bài copy từ 1 website nổi tiếng của giới trí thức. Đọc mà phải giật mình suy nghĩ

Cả hai tuần nay, việc chính quyền Trung Hoa quyết định coi các quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa là lãnh thổ của người Tàu đã khơi dậy một phong trào yêu nước của người Việt khắp nơi. Lần đầu tiên, sinh viên và trí thức quốc nội đã tự động phát khởi những cuộc biểu tình độc lập, không có bàn tay chính quyền nhà nước, cho một vấn đề không liên quan gì đến chính trị nội bộ hay là các vấn đề dân sinh khác. Ngọn lửa yêu nước được khơi dậy – bừng bừng, rực sáng.

Từ các websites, các e-mail, các forum, tôi thấy tiếng Việt như đang bốc cháy. Tôi hình dung ra được các “con tim thì sôi máu” đang muốn lên đường ra biên cương đánh giặc Tàu, lấy lại giang sơn, tổ quốc. Các nhà thơ, nhà văn, họa sĩ, xưa nay không muốn dính vào chính trị cũng nhảy vào như là bị ai đó xô mình vào lửa. Họ viết lên những hàng chữ rất xúc động, nghe rất là quen thuộc – của những ngôn từ ái quốc mà người Việt chúng ta cứ lặp lại cả mấy ngàn năm nay cũng đối với một kẻ thù truyền kiếp. Tôi đọc những dòng văn, những bài hiệu triệu yêu nước mà bị rung động lên một cách tự nhiên như là nghe lại một câu hò giã gạo ngày xưa, một bài quốc ca cũ, một hành khúc chiến tranh, hay là sáu câu vọng cổ bình dân ngày trước.

Không có gì mạnh và nóng hổi như là tình cảm yêu nước và tự ái quốc gia, dân tộc, hận thù ngoại bang khi nghe tin quê cha bị xâm chiếm. Tôi muốn tôi cũng phải nhìn lại tôi, lắng lòng suy xét tình cảm nhiệt thành từ trong trái tim, để mà mỉm cười với chính mình, để thở phào ra nhẹ nhỏm một chút. Nhưng khi đọc những dòng chữ của Ngô Thế Vinh trên talawas nói về tinh thần “quyết tử” của một chiến sĩ hải quân Việt Nam trong trận Hải chiến ở Hoàng Sa với Trung Hoa năm 1974 muốn được chết trên hòn đảo này mà vẫn không được, tôi phải đứng dậy rời khỏi ghế ngồi vì bị xúc động.

Phần thì giận hung đồ ngang dọc
Phần khi lo quốc bộ khó khăn
(Bình Ngô đại cáo)

Tôi đi ra ngoài phố ở San Jose, California, ngồi xuống bên ly rượu với một số thanh niên Việt và chỉ nghe họ chửi thề, văng tục liên miên, “Đ. m. cái thằng Tàu! Khốn kiếp cái thằng Tàu!” và đưa bàn tay lên nắm tóc như muốn xé ra trong tức giận và bất lực. Làm gì bây giờ? Chỉ chửi mắng và biểu tình thôi sao? Có anh chàng nói to, “Đ. m. giờ phút nầy mà đứng trên một tàu chiến Việt Nam ở Đông hải, hướng súng đại liên bắn xả đạn vào tàu chiến của thằng Tàu là sung sướng, đã đời nhất.” Dĩ nhiên rồi. Nhưng vẫn chỉ là vọng tưởng mơ hồ trong bầu nhiệt huyết thuần bất lực. Lần đầu tiên, cả dân tộc Việt, từ chính quyền đến nhân dân, trong và ngoài nước, từ sĩ phu đến bình dân, tất cả đều phải chia sẻ nỗi niềm bất lực trước sức mạnh bá quyền của người Hoa. Chưa bao giờ hai kẻ láng giềng trong một tranh chấp ngoài biển khơi lại gây cho nhiều kẻ trong phe yếu thế bực mình, bức xúc, căm phẫn như thế.

Tôi bỗng nghĩ đến một giả thuyết tâm lý cho kẻ chiến bại muốn trả thù trước một đối phương to lớn. Đó là khi Nietzsche cho rằng Thiên Chúa giáo là sản phẩm của dân Do Thái khi họ bị bất lực trước kẻ thù là Đế quốc La Mã. Vì không đánh thắng đối phương bằng võ lực mà dân Do Thái đã tạo ra niềm tin và Tân ước để làm kẻ thắng La Mã bị phục tòng trong mặc cảm đạo đức. Vì đó mà Giáo hội La Mã nâng cao hai chữ “tội lỗi” và “đau khổ” thành tiêu chuẩn thượng đẳng. Từ tác phẩm tôn giáo và Giáo hội Công giáo mà bây giờ người ta không biết giữa dân Do Thái, bằng tôn giáo, và Đế quốc La Mã, bằng sức mạnh quân sự và chính trị, ai đã thực sự chinh phục ai, và phía nào thực sự mới là “đế quốc”?

Tôi ước chi rằng người Việt chúng ta có thể bắt chước người Do Thái mà sáng tạo cho người Tàu một tâm lý tri thức nhằm thuần phục họ về tới một số những phạm trù giá trị thượng đẳng mới – như người Ấn Độ đã cho người Tàu văn minh Phật giáo để giải hóa và quân bình thứ văn hóa thuần quyền lực thực dụng của Trung Quốc. Nhưng thời đại ngày nay, trong tâm thức nhân loại thì tôn giáo, như là một năng lực văn minh và khai hóa, đã tàn lụi. Tôn giáo bây giờ là kinh tế vật chất, và thượng đế là tiền bạc. Người Việt chúng ta vốn đã yếu kém về chính trị nội bộ, quân sự và kinh tế, lại không có chiều sâu văn hóa để sáng tạo tôn giáo, giá trị đạo đức, tiêu chuẩn tri thức mới nhằm chinh phục và khai hóa chính chúng ta, chứ nói chi đến người Tàu.

Nhưng một đằng khác thì tôi lại muốn thoát ra khỏi tình cảm bức xúc đầy bất lực trước chuyện đế quốc Tàu xâm chiếm đất nước của cha ông, bằng cách vỗ tay vào ngực mà thầm lý luận cho chính mình rằng:

Yêu nước, vâng, nhưng… Tự khi nao mà cái tình cảm to lớn này đã gieo vào lòng người và mãi theo đuổi hầu hết chúng ta cho đến ngày hôm nay? Khi lòng yêu nước lên cao, ta thấy nó biến thành hận thù đối với ngoại bang trong những ngôn từ đánh đưa cảm xúc sôi bỏng đó. Tự nhiên nghe lại những “Ái quốc”, những “Tổ quốc”, những “Hy sinh”, “Nên hòa hay nên chiến?”, “Quyết chiến”, vang vọng cao như là tiếng trống thôi thúc chúng ta ra mặt trận để sống chết với quân thù. Chúng ta đang được xoa vào mạch máu của bản chất dân tộc và tự ái quốc gia. Chúng ta vẫn còn say sưa trong tinh thần ái quốc và nhu cầu độc lập lãnh thổ của ngàn năm lịch sử. Để rồi những từ ngữ đó mang đầy cảm nhận tích cực – dù rằng tôi vỗ tay lên trán để mà biết rằng ngôn ngữ kiểu này, của hận thù và yêu nước, của non sông, của dân tộc, của tổ quốc, tất cả chỉ là hiện thân cho một thể loại tình cảm bộ lạc tiêu cực giới hạn đầy bản chất thiếu niên và cục bộ. Tôi cũng liên tưởng nghe thấy chúng vang âm hưởng của những hiệu triệu “thánh chiến” và “tử vì đạo” trong những bài “suy ca” tôn thờ những “thánh tử đạo” của những khối quần chúng và dân tộc chìm đắm ngủ say trong tinh thần văn minh trung cổ vốn có thừa niềm tin tuyệt đối và cảm tính quá khích nhưng vẫn còn thiếu nhiều lắm khả năng lý trí trong quan điểm tương đối và cảm nhận ôn hòa.

Tuy suy nghĩ như thế để tự an ủi chính mình, nhưng tôi biết là tình yêu nước và thù hận người Tàu xâm lăng, trong những lúc như thế này, đã thấm vào xương tuỷ dân tộc Việt Nam. Làm sao để thoát ra? Tình cảm ái quốc cũng như là xúc động cá nhân trước cuộc đời. Chúng đi ra ngoài và lên trên sự kiểm soát của lý trí. Ta không thể không yêu nước, cũng như ta không thể không tức giận về những vấn đề của thế gian và con người. Có phải rằng đã làm người thì ta phải có một tình yêu cho tổ quốc, dù rằng người dân của quốc gia thù nghịch cũng xứng đáng với tình yêu nước của họ? Kẻ phản quốc của nước này là anh hùng quốc gia cho xứ địch.

Ta là ai mà đòi bước qua khỏi biên giới quốc gia dân tộc ngặt nghèo này?

Quan trí?


Mời bà con coi thử bài phỏng vấn quan Ngự y GS TS Trần Đáng (xin nhấn mạnh: GIÁO SƯ TIẾN SĨ) trên báo Người Lao Động (http://www.nld.com.vn/tintuc/chinh-tri-xa-hoi/209624.asp). Xin nói thêm, vị GIÁO SƯ này là người đã từng xếp một lọai thuốc đặt âm đạo của Trung Quốc vào nhóm “thực phẩm chức năng” (?), nghĩa là ăn được!!!!

Vụ mắm tôm dịch tả, tôi và nhiều đồng nghiệp khác đã lên tiếng nhiều rồi. Chuyện rõ như ban ngày, đến nỗi một chú sinh viên Ỵ dù có ham chơi lười học hay thiểu năng trí tuệ cách mấy cũng phải hiểu ra. Trừ phi chú ngu ngốc thật sự, hay cố tình tỏ ra ngu ngốc, trời ạ!

Không thèm bàn đến mắm tôm nữa, rác tai bà con! Chỉ muốn bàn rộng ra về cái gọi là “quan trí” của các quan ngự y này thôi.

Bà con cứ vô nhà tôi discuss thoải mái nghen. Chủ đề: “Quan trí thời nay”! Muốn văng tục cứ văng tục thoải mái (tôi đang kiềm chế đây nè), vụ này các y tổ không cấm khi tranh luận y hoc. !F#$@U&C^$K

PGS-TS Trần Đáng, Cục trưởng Cục An toàn vệ sinh thực phẩm:

Mắm tôm là nguyên nhân đầu tiên gây bệnh tả

12-12-2007 07:17:24 GMT +7

Đối với doanh nghiệp sản xuất và kinh doanh, việc tạm ngừng sử dụng những sản phẩm có liên quan tới dịch cũng là một rủi ro

Sau khi Bộ Y tế chính thức công bố hết dịch tiêu chảy cấp nguy hiểm có nguyên nhân từ vi khuẩn tả, Cục An toàn vệ sinh thực phẩm (Bộ Y tế) cũng đã cho phép lưu hành trở lại sản phẩm mắm tôm, sau hơn một tháng tạm ngừng sử dụng. Chiều 11-12, PGS-TS Trần Đáng, Cục trưởng Cục An toàn vệ sinh Thực phẩm, trao đổi với phóng viên Báo Người Lao Động xung quanh nội dung này.

. Phóng viên: Dư luận cho rằng thời điểm này mới công bố cho sử dụng trở lại mắm tôm là quá chậm trễ, vì vừa qua không phát hiện mẫu mắm tôm nào dương tính với khuẩn tả?

– PGS-TS Trần Đáng: Tôi khẳng định lại, mắm tôm là nguyên nhân đầu tiên gây bệnh tả. Theo điều tra mới đây do Cục An toàn vệ sinh thực phẩm thực hiện trên 61 bệnh nhân mắc tả (từ ngày 23-10 đến 4-11), đang điều trị hoặc đã ra viện, thì tất cả có chung dấu hiệu lâm sàng điển hình của bệnh tả. Những bệnh nhân này cũng được Viện Vệ sinh Dịch tễ Trung ương xét nghiệm và xác định nhiễm vi khuẩn tả.

Sau “thủ phạm” đầu tiên là mắm tôm thì tiếp theo đó nhiều thức ăn khác cũng được xác định là nguyên nhân gây bệnh tả như: bún đậu mắm tôm, rau sống và một số thực phẩm chế biến ăn ngay như giò chả… Điều đó cho thấy, nguồn lây bệnh đã lan sang nhiều thực phẩm khác chứ không riêng gì mắm tôm.

. Nhưng các mẫu xét nghiệm mắm tôm đều không tìm thấy vi khuẩn tả?

Xét nghiệm có hay không có vi khuẩn tả trong mắm tôm không liên quan gì đến kết luận mắm tôm là thức ăn gây nên bệnh tả. Bởi thực tế, vi khuẩn tả chỉ tồn tại trong mắm tôm một thời hạn nhất định, khoảng 40 giờ. Có thể lô mắm tôm nhiễm vi khuẩn tả đã được tiêu thụ hết trước khi chúng tôi làm các xét nghiệm. Vì thế, người nào ăn phải lô mắm tôm có khuẩn tả trong khoảng thời gian nói trên thì sẽ mắc tả, những người ăn sau khoảng thời gian vi khuẩn tả tồn tại thì không bị. Tuy nhiên, số người mắc tả sẽ thải phân ra môi trường, vi khuẩn tả theo nguồn nước, không khí… nhiễm vào các thực phẩm khác và đây chính là nguồn làm lây lan dịch bệnh ra cộng đồng.

. Việc kết tội cho mắm tôm đã khiến không ít doanh nghiệp sản xuất và kinh doanh mắm tôm bị thiệt hại, thưa ông?

– Rõ ràng nguyên nhân đầu tiên là mắm tôm, để bảo vệ sức khỏe và tính mạng người tiêu dùng, việc cấm sản xuất và kinh doanh mắm tôm trong một thời gian là cần thiết. Hơn nữa, thời gian qua để đối phó với dịch tiêu chảy cấp nguy hiểm, Nhà nước đã phải chi nhiều tỉ đồng để khống chế dịch. Đối với doanh nghiệp sản xuất và kinh doanh, việc tạm ngừng sử dụng những sản phẩm có liên quan tới dịch cũng là một rủi ro.

. Còn kế hoạch để quản lý chất lượng mắm tôm, khi sản phẩm này được tiêu dùng trở lại?

– Quản lý mắm tôm nói chung và chế biến thủy hải sản nói riêng thuộc trách nhiệm của Bộ NN-PTNT. Vì vậy chúng tôi đã kiến nghị Bộ NN-PTNT tăng cường kiểm tra các cơ sở sản xuất mắm tôm. Chỉ cho các cơ sở điều kiện vệ sinh an toàn thực phẩm mới được phép sản xuất, kinh doanh mắm tôm. Sản phẩm mắm tôm để được lưu thông ngoài thị trường phải được công bố chất lượng hoặc được các cơ quan quản lý thủy hải sản chứng nhận đủ điều kiện vệ sinh an toàn thực phẩm.

. Nghĩa là trước đây chúng ta đã bỏ sót việc công bố chất lượng của mắm tôm?

– Trước đây, một số cơ sở sản xuất mắm tôm không công bố tiêu chuẩn chất lượng, nhưng nay tất cả mắm tôm đều phải công bố tiêu chuẩn chất lượng, vì đây là sản phẩm không chỉ tiêu thụ trong 24 giờ.

. Mắm tôm được tiêu thụ phải bảo đảm những tiêu chí nào, thưa ông?

– Đó phải là mắm tôm nguyên thủy, không ô nhiễm, không có vi khuẩn gây bệnh. Khi bị ô nhiễm, các loại vi khuẩn thường thấy trong mắm tôm là vi khuẩn kỵ khí, E.Coli, vi khuẩn đường ruột…

Ngọc Dung thực hiện

Đây có phải là sự thật?



Lòng hiếu khách ở đâu?

Nguyên văn ở đây
Eileen 76

Thành viên diễn đàn du lịch Lonely Planet

Tôi và mấy người bạn vừa tới thăm Hà Nội và Việt Nam được năm này và nói thật là một chuyến đi thật khốn khổ.

Sao vậy? Ngay từ lúc lên máy bay (Air Asia) là đã thấy mấy người Việt vô ý thức và cứng đầu cứng cổ dùng điện thoại khi đã ngồi vào khoang.
Không phải chỉ một người mà vài người bất chấp các chiêu đãi viên đề nghị tắt điện thoại di động.

Khi tôi đến Hà Nội thì điện thoại cầm tay của tôi bị một người đàn ông là người Việt lấy cắp khi chúng tôi đang đứng ở vỉa hè gần một cái hồ để xác định hướng đi. Hắn móc túi từ đằng sau và tôi đã hô lên nhưng rồi hắn hét lên còn to hơn tôi và bỏ chạy. May mắn thay là máy ảnh kỹ thuật số và tiền nong vẫn còn vì nằm ở phần trong của túi xách nên vẫn còn. Còn điện thoại nằm ở túi nhỏ ở ngoài thì biến luôn cùng gã khốn kiếp đó. Vết thương lại càng thêm nhức nhối khi một người bán hàng ngồi gần đó chứng kiến tất mọi chuyện mà chẳng làm gì cả!!!

Bây giờ là đến chuyện giao thông hỗn loạn ở Hà Nội, cả hai đèn xanh và đỏ đối với người Hà Nội đều có nghĩa là Đi Đi Đi. Mà tại sao người ta lại cứ bấm còi inh ỏi, chắc là khi đụng vào người đi đường rồi thì mới nói là tôi không có lỗi vì đã bấm còi rồi hay sao? Tôi đã từng đến Campuchia nơi giao thông ở đây (ít nhất là ở thủ đô Phnom Penh) cũng hỗn độn tựa như ở Hà Nội.Tức là ở Phnom Penh thì mình cứ qua đường và xe cộ sẽ tự tránh mình, miễn là đừng có di chuyển quá đột ngột hoặc dừng lại giữa chừng. Thế nhưng áp dụng phương pháp đó tại Hà Nội thì có lẽ quí vị không chết thì cũng mất mấy chi như chơi.

Rồi người Hà Nội sao kỳ vậy? Thô lỗ quá đi.

Việc họ không nói tiếng Anh thì tôi thấy chấp nhận được. Thế nhưng điều tôi chịu không nổi là họ không nhìn mình trong lúc nói chuyện. Tôi lấy một ví dụ để quí vị dễ thấy. Chúng tôi đến Nhà hát Múa rối Nước và muốn mua 3 vé xem buổi diễn 8 giờ 30 tối.Cô bán vé đốp chát trả lời “No” (Không) và tự động xé 3 vé đưa chúng tôi.

Chúng tôi hỏi lại rất lịch sự là “Không” có nghĩa là thế nào thưa cô? Tức là không có buổi lúc 8:30 hay là không có loại vé 20 ngàn đồng (vì có 2 loại hạng ghế là 20 và 40 ngàn VND). Cô ấy lẩm bẩm lại câu “Không” và rồi thì chúng tôi nhìn vào vé cô đưa cho chúng tôi thì mới biết là cô đưa cho chúng tôi vé 40 ngàn đồng và buổi xem là 9:15. Chúng tôi bảo cô ấy là chúng tôi muốn mua vé cho loại ghế rẻ tiền hơn và rồi cô lại tiếp tục càu nhàu. À, mà quí vị có biết là khi chúng tôi nói thì cứ như là cho chúng tôi nghe mà thôi vì cô này đọc báo đặt trên bàn và thậm chí không ngẩng đầu lên nói chuyện với chúng tôi.

Cuối cùng chúng tôi thấy đành phải đưa cho cô tiền. Thế nhưng điều gì sẽ xảy ra nếu ai đó không muốn mua vé mà chỉ muốn hỏi thông tin về buổi diễn. Chúng tôi gặp những bộ mặt lạnh lùng và thái độ tiêu cực này từ những người bán hàng tại khu vực Phố Cổ nơi chúng tôi muốn chụp mấy tấm hình.

Mà chúng tôi cũng chỉ hỏi ông chủ quán bia hơi có hai câu là bia bao nhiêu tiền và có chụp ảnh được không. Và tôi cũng muốn nói với những ai đang chuẩn bị chỉ trích tôi về những gì tôi viết để họ biết rằng tôi là người châu Á và tôi cũng đã cố gắng lịch sự hết mức như cười và nói lời cảm ơn bằng tiếng Việt với bất kỳ ai tôi gặp khi tôi tới Việt Nam.

Thực lòng mà nói là tôi đã đi du lịch nhiều nước từ châu Á sang châu Âu và trong các chuyến đi thì chưa bao giờ tôi lại gặp những người thô lỗ và ích kỷ như những người tôi đã gặp ở Hà Nội.

Lòng hiếu khách của người Việt mà người ta nói tới nay biến đâu rồi?

Mặc dù Việt Nam phát triển hơn hai nước láng giềng là Lào và Campuchia thì tôi thấy Việt Nam có nhiều cái cần phải học từ hai nước này. Tức là Việt Nam nên học cách người Lào và Campuchia chào đón du khách thân thiện và ấm áp thế nào.Tức là một nụ cười, hoặc là sự đón tiếp nồng ấm làm cho du khách cảm thấy phấn khởi và làm được điều đó thì hay biết làm sao.

Cảm ơn Hà Nội vì lòng hiếu khách “tuyệt vời”. Trở lại Việt Nam ư? Chắc sẽ không có lần thứ hai trong đời tôi.

Điểm đến Campuchia, Lào, hay Thái Lan thì tôi muốn trở lại bất kỳ lúc nào.

Đọc lại Tâm hồn cao thượng nhân dịp Tung Của chiếm Hoàng Sa


Tâm hồn cao thượng (nguyên tác Les grand coeurs) qua bản dịch của học giả Hà Mai Anh là cuốn sách mà tôi ngấu nghiến trong giờ ra chơi của những năm tiểu học. Phải nói rằng, nó là một trong số hiếm hoi những cuốn sách làm thay đổi đời tôi, từ những năm thơ ấu đó. Có những lời trong sách, tôi vẫn còn nhớ như in sau hơn 30 năm.

Sách hay, giản dị và cảm động. Mọi cuốn sách để đời cho lứa tuổi nhi đồng đều phải như thế! Không hề có những lời răn dạy cao xa, hay những câu chuyện, tấm gương bốc phét vẽ vời, mà họa chăng tiên thánh mới làm nổi. Bạn bè ghé qua trang này trong ngày Trung Quốc xâm lược Trường Sa, đọc thử một chương “Lòng Ái quốc” để chia sẻ cùng tôi, để truyền lại cho con cái những dòng cảm động này.

——————————————————————————————————————-
Đầu bài thi của con sáng nay là : “Tại sao anh yêu xứ sở của anh?” Con đã cảm động về chuyện “Chú lính đánh trống” hôm trước, tất con đã làm bài một cách dễ dàng.

Tại sao anh yêu xứ sở của anh? Câu hỏi ấy chẳng làm nẩy nở trong óc con biết bao nhiêu là câu trả lời hay sao? Tôi yêu xứ sở của tôi vì mẹ tôi sinh trưởng ở đấy ; vì nguồn máu trong mạch của tôi đều là của người ; vì trong khu đất thánh kia đã chôn vùi tất cả những người quá cố mà mẹ tôi thương, mà cha tôi trọng ; vì cái đất mà tôi sinh, thứ tiếng tôi nói, quyển sách tôi học, các em tôi, chúng bạn tôi và một dân tộc lớn sống chung với tôi, cảnh đẹp của tạo hoá bao bọc chung quanh tôi, tóm lại tất cả những sự vật mà tôi trông thấy, tất cả những cái gì mà tôi yêu, tất cả những cái gì mà tôi quí, nhất nhất đều thuộc về xứ sở của tôi cả.

Bây giờ tôi còn bé, con chưa thể hiểu thấu được thế nào là lòng yêu nước. Rồi ra con sẽ biết. Khi con du lịch ở xa về, một buổi sáng, đứng dựa bao lơn tàu con thấy ở chân trời một dãy núi xanh của xứ con hiện ra, bấy giờ con sẽ thấy trào lệ cảm ở lòng con dâng lên và miệng con vuột ra những tiếng kêu mừng rỡ.

Con sẽ cảm thấy tình yêu nước khi con ở nước ngoài chợt nghe thấy một người trong đám thợ thuyền nói tiếng nước con, theo lòng con xui giục tự nhiên con đến hỏi chuyện người thợ không quen ấy.

Con sẽ cảm thấy tình yêu nước, khi con nghe thấy người ngoại quốc lăng mạ xứ sở con, lòng tức giận sẽ làm cho con nóng mặt.

Con sẽ cảm thấy tình yêu nước mạnh mẽ và tôn đại hơn nữa, nếu một ngày kia, nước địch vô cớ giày xéo vào đất ta ; lúc ấy con sẽ thấy nào cha hôn con khuyên câu dũng cảm, nào mẹ tiễn con hẹn lúc khải hoàn.

Con sẽ cảm thấy tình yêu nước khi con trông thấy những đội quân vất vả trở về với những khúc ca chiến thắng.

Con sẽ cảm thấy tình yêu nước khi con trông thấy lá cờ ba sắc bị bắn tả tơi đi đầu một toán người nghĩa dũng, ai nấy đều phô cao trán buộc băng hay cái tay bị bó, trong đám đông dân chúng hoan hỉ, người ta ném hoa mừng và hô những lời chúc tụng.

Enricô ơi ! Bây giờ con đã hiểu thế nào là lòng ái quốc. Đó là một điều rất to tát, rất thiêng liêng. Vì một ngày kia, ta trông thấy con về trận được an toàn, nhưng được tin con lẩn lút để tránh cái chết, thì cha đây thay vì đón con lúc đi học về bằng những tiếng cười vui vẻ, bấy giờ cha sẽ đón con bằng những tiếng khóc xót xa. Cha sẽ không thể thương con được nữa và sẽ đâm tim mà thác cho rồi !

Cha con.